Chương 3: Đếm mây gió gào thét, chẳng nhiều bằng số vết thương



Mười vạn lính bao vây dọc các hẻm núi, mười cung thủ nấp cẩn thận trong các bụi cỏ lau lớn, chưa kể năm cao thủ phục kích trên vách đá cheo leo chỉ cần một hiệu lệnh sẽ tổng tấn công phản quân của Đồng Thuận Nguyên đang men theo đường tắt để kịp tiếp ứng cho Đồng Quy đóng quân phía nam uy hiếp hoàng đế.

Đêm qua uống say, Khúc Thi chưa tỉnh táo hẳn đã nghe chuyện Đồng Thuận Nguyên đánh cỏ động rắn cố tình dụ tướng quân trấn ải Nguyên Chi đưa binh xuống chặn đánh bằng đường thủy – đúng là kế giương đông kích tây, giúp hắn ra vào ải quan như chỗ không người. Lộ trình dẫn quân đến một tháng giảm xuống thành hai tuần. Nếu không phải Khúc Thi đề phòng ngày đêm phái người ở hẻm núi theo dõi thì sợ quân của Đồng Thuận Nguyên vượt được núi Tì Hưng – lá chắn của Văn Linh Quốc – địa thế hiểm trở, đường dốc trơn trượt, nhiều độc trùng, vách đá sắt nhọn – mang quân tiến thẳng đến kinh thành.

Mặc dù Khúc Thi đã uống thuốc giải rượu nhưng đầu óc vẫn còn choáng váng, cộng thêm đêm khuya không ngủ, tinh thần sa sút, bệnh phong hàn nặng thêm phần nào. Nàng ho ngày càng nhiều nhưng là người đến từ tương lai, Khúc Thi tự biết chăm sóc không để bệnh trở nặng thành bệnh lao.

Từ lọ dược trong tay áo, nàng lấy viên thuốc nhỏ màu đỏ bỏ vào miệng, cố gắng nuốt xuống vì đây là loại thuốc chữa các bệnh thông thường hữu hiệu của Tịnh Hầu Quốc mà ba năm trước hai cô nương kia đã tặng mình phòng bệnh. Cứ nghĩ chẳng bao giờ sử dụng, tùy tiện mang theo coi như đáp lễ, không ngờ có ngày lại dùng cho chính bản thân mình. Ngẫm lại, hai người kia cũng là người tốt, chăm sóc nàng cả đêm, nào bón thuốc, nào đốt thang, lại còn tặng dược mà tên lại không cho mình biết, may mắn nhất là họ vẫn chưa phát hiện thân phận nữ nhi của nàng. Sáng sớm hôm sau, trở về cung, họ liền biến mất còn mình phải khổ sở nằm trên giường dưỡng bệnh để ngày mai có thể hồi phục mà dự thi.

Khúc Thi cười tự giễu bản thân, tay không tự chủ xoa xoa lọ thuốc rồi cất nó cẩn thận vào người.

Mặt trời qua khỏi rặng núi, đám phản quân đằng xa đang chầm chậm tiến vào hẻm núi mà không phát ra âm thanh nào, không hổ là quân ngự chiến của hoàng gia, tiếc là đi sai đường thờ không đúng chủ.

Đứng trên ngọn núi, thân mặc chiến bào trắng, mắt đen huyền sắc bén như chim đại bàng, đợi đúng thời cơ, Khúc Thi rút nhanh thanh kiếm đeo trên lưng ngựa, giơ lên trời hô: “Giết!”

Theo tín hiệu, các binh lính mai phục từ bụi rậm không ngừng bắn tên vào đám phản quân bên dưới, năm cao thủ ở lưng chừng núi đồng loạt phóng ám khí tẩm độc vào Đồng Thuận Nguyên và chỉ dừng lại khi thấy hắn ngã xuống ngựa, da tím tái, mắt trợn trắng mới giật dây cho người bên trên kéo mình lên. Những kẻ còn lại người chạy người quyết tử, thây chất thành đống.

Hơn ba canh giờ, trận chiến mới chấm dứt, tuy binh lính không thương vong nhưng vì đóng quân ở đây khá lâu, lương thực cạn kiệt, thêm vào đó, đang mùa sinh sản, trùng độc hoành hành, số người trúng độc nhiều không kể siết làm Khúc Thi đau đầu nghĩ cách. Cầu viện với triều đình nhanh nhất cũng phải một tháng, tự ý mang quân về cung là phạm đại tội mà tiếp tục ở đây chỉ có chết, tiến thoái lưỡng nan mà.

Hiểu được ý đó, Mộc Quyền kề bên hiến kế: “Tướng quân, chúng ta thử cầu viện Tịnh Hầu Quốc, mượn chút linh dược của họ để chữa bệnh.”

Xung quanh đây, đồng không mông quạnh tìm được một hiệu thuốc cũng chưa chắc có dược liệu cần.

“Tịnh Hầu Quốc là nước giỏi về y dược nhưng mang quân sang đó sẽ khiến hoàng đế nghi ngờ ta cấu kết ngoại bang tạo phản. Cách này không được.” Khúc Thi mệt mỏi, mắt nhìn xa xăm không định hướng.

Mộc Quyền nói nhỏ trong miệng: “Hoàng đế là hoàng huynh của tướng quân hẳn sẽ thông cảm.”

“Hoàng huynh thì sao? Ngươi đừng quên hắn là kẻ thế nào?” Khúc Thi cười lạnh, người hiểu Mộc Uy nhất chính là nàng. Hắn là người ham muốn quyền lực đến tột độ hệt như phụ thân Mộc Hầu Phong, bỏ rơi quận chúa Oanh Nhi, kết hôn với công chúa Linh Quan, thâm độc hơn nữa là mượn tay nương tử hạ độc hoàng đế buộc ngài phải nhường ngôi vì tuổi già sức yếu. Mới hai tháng thành hôn, Mộc Uy nghiễm nhiên trở thành hoàng đế đường đường chính chính. Bây giờ, đem lý do đơn giản này giải thích chỉ sợ mạng không giữ được.

“Tướng quân có thể không cần cầu viện trực tiếp.”

Khúc Thi hơi giãn mày, ngạc nhiên hỏi: “Ngươi muốn lén sang đó thu dược về sao?”

“Dạ, thần và vài người có thể trà trộn làm thương buôn mua dược về.”

“Không được, đám thầy thuốc thấy ngươi thu nhiều dược, lại là dược để trị độc trùng nhất định sẽ sinh nghi.”

“Vậy tướng quân có ý gì không?” Mộc Quyền khó chịu khi ý kiến của mình liên tục bị bác bỏ.

“Có thể…” Khúc Thi thở dài một tiếng rồi nói tiếp, “Ta phải nhờ bạn hữu, người đó có thể giúp.”

Mộc Quyền kinh ngạc hỏi: “Bạn hữu? Tam thiếu gia làm sao có thể quen? Ngày thường, người ở trong phủ suốt.”

Bị hỏi một tràng thế này, Khúc Thi tỏ ý khó chịu cau có: “Liên quan gì ngươi. Khụ…khụ…”

“Thiếu gia, người uống thuốc, chuyện đi thu dược cứ để tiểu nhân lo.” Mộc Quyền vội vội vàng vàng mang chén thuốc mới sắc đặt lên bàn cho Mộc Phong, đêm qua thiếu gia uống nhiều rượu lại không chịu ngủ, cả đêm trò chuyện với bài vị của quận chúa nên thành bộ dạng này đây.

Khúc Thi xua tay, bảo: “Ngươi ở lại coi doanh trại, độ chừng mười ngày nữa chắc chắn Đồng Quy sẽ mang tàn quân chạy trốn, tạm thời chưa biết hắn hành động thế nào, ngươi ở lại cẩn thận theo dõi, sai vài người đến trấn nhỏ mua chút lương thực, nơi đó hẻo lánh nên phải nhớ, có mới được mua không được cướp.”

“Dạ.” Mộc Quyền kính cẩn ôm quyền dời đi, truyền lệnh xuống. Theo hầu từ nhỏ, hắn luôn kinh thường vị chủ nhân ăn chơi này nhưng càng ngày thiếu gia càng trưởng thành, suy nghĩ không hời hợt, chưa kể những biểu hiện lạ của ngài, cảm thấy giống một cô nương, có điều tính cách quật cường và tình cảm sâu đậm với quận chúa là bằng chứng cho thấy Mộc Phong là nam tử. Thôi kệ, hắn chẳng dám nghĩ nhiều, vượt quá phận của một người hầu.

“Mệt quá. Thật sự rất mệt.” Khúc Thi dựa người vào chiếc ghế gỗ nhỏ đằng sau mà than thở. Trở về quá khứ, sướng có, khổ có, lao tâm cũng có, nói chung là dụng tâm quá nhiều.

“Có chuyện gì cầm lệnh bài này đến phủ Tịnh Bảo Vương ở Tịnh Hầu Quốc tìm, ta sẽ giúp ngươi coi như đền ơn cứu mạng.”

Người con gái đó ném cho nàng lệnh bài ghi chữ “vương” rồi lớn giọng nói. Vẻ mặt rất hồ hởi, uy quyền không giống các tiểu thơ thường thấy của quan lớn. Thật ra, hai người đó lai lịch thế nào mà mọi người của Văn Linh Quốc đều kính nể không dám đụng vào? Chỉ cần một câu, lính gác cửa mở cả cổng thành cho xe ngựa đi mà không tra xét dù đó là giờ giới nghiêm.

“Các ngươi là loại người nào đây?” Khúc Thi mỉm cười xoay ngược xoay xuôi lệnh bài, thầm nghĩ đến các tình huống trong truyện và phim, những người đó chắc hẳn là vương gia hay công chúa, tệ lắm cũng ray mơ rẽ má với hoàng gia. Gặp họ là chuyện nhỏ, chỉ là phải nghĩ cách làm sao đánh lạc hướng đám do thám của Mộc Uy đây.

Ngày nào, chúng cũng giả làm chim cú hú hú ngoài lều làm nàng không thể ngủ được nhưng không thể đả thảo kinh xà, bằng không hoàng đế sẽ tìm cớ triệu nàng về kinh giam lỏng, đã là con cờ suốt ba năm, chịu thêm một năm nữa cũng không sao. Chỉ cần đánh bại đám phản loạn họ Đồng, nàng sẽ sớm rời khỏi hoàng cung chu du thiên hạ.

Đứng dậy tiến đến bản đồ treo đằng sau, Khúc Thi cẩn thận xem xét từng khu vực coi thử nơi nào bí mật liên thông với Tịnh Hầu Quốc nhưng cả ngày chẳng thấy con đường nào an toàn cả. Không có đường thì phải tạo đường – vô trung sinh hữu – đạo lý đó không phải không có lý.

Khúc Thi hô to: “Mộc Quyền!”

“Dạ, có mạc tướng.” Mộc Quyền từ bên ngoài nhanh chóng chạy vào quỳ dưới đất.

Khúc Thi đưa ba ngón tay nhẹ nhàng nói: “Kiếm cho ta xe ngựa, nhớ phải bí mật, tối nay xuất phát.”

“Tuân lệnh.”

oOo



Màn đêm buông xuống, phía bắc, một chiếc xe ngựa chuyển bánh nhanh nhất và ít phát ra tiếng động nhắm Tịnh Hầu Quốc mà đi, chưa kể đến có ba chiếc cùng xuất hành ở ba hướng khác nhau làm thám tử không thể không chú ý nhưng nhiều vậy chỉ có thể chia lực lượng ra để tiện theo dõi.

Ba chiếc xe đều đi rất nhanh và không có ý định dừng lại, bí hiểm, hơn nữa người trong xe lại che kín mặt không thể phân biệt ai là Mộc Phong. Bí thế, bọn họ đành lộ diện chặn đường cả ba chiếc lại nhưng rèm che vừa mở ra, bọn họ đều bật ngửa vì người trong xe là hình nộm nhưng được ngụy trang rất cẩn thận. Vậy thật ra tướng quân Mộc Phong đi bằng cách nào? Mà nơi hắn định đi là đâu? Cả bọn đều không biết phải báo cáo như thế nào với cấp trên đây?

“Bọn ngốc.” Một bóng đen từ hàng ngũ do thám lặng lẽ rời đi khi những người khác đang chăm chú chạy theo chiếc xe thứ hai bên trái.

Trời đêm nay rất nhiều sương lại không sáng trăng, sử dụng kế “Ám độ trần sương” là tốt nhất. Mặt trời vừa xuống núi, Khúc Thi đã thay hắc y lẳng lặng ngồi chờ trong xe ở góc khuất, chờ chúng đuổi theo đến khu rừng Quỷ Lâm nổi tiếng về độ rậm rạp và khói độc của các côn trùng sống trong tử thi rất khó nắm bắt phương hướng, nàng chớp lấy cơ hội dùng kế ve sầu thoát xác – trốn khỏi xe nấp vào bụi cây – thám tử vừa đến – nàng sẽ gia nhập vào đám người đang đuổi theo mình bằng kinh công đằng sau, theo sát chúng để thoát khỏi rừng, tiếp theo đợi chúng ngỡ ngàng mà trốn đi, vì chẳng ai đủ tỉnh táo kiểm duyệt lại quân số.

Thế là nàng thuận lợi rời khỏi mà không đá động gì đến triều đình, dù có cũng không có bằng chứng. Việc ở quân doanh giao cho Mộc Quyền quản lý, chỉ cần cứ cơm bưng nước rót như thường ngày sẽ chẳng ai nghi ngờ, hơn nữa tài nhái giọng của Mộc Quyền cũng thuộc bậc cao thủ.

Mọi chuyện xảy ra đúng kế hoạch, chỉ còn một vấn đề là cô nương kia còn nhớ lời hứa ba năm trước hay không? Đánh cược cả mạng mình vì binh lính hay đúng hơn là những người buộc phải dấn thân ra chiến trường, những người không mong muốn chiến tranh nhất nên xin ông trời đừng trêu chọc nàng.

Một chiếc thuyền nhỏ đợi nàng từ chiều đến tối được Mộc Quyền chuẩn bị kỹ lưỡng, phủ đầy cỏ khô cất trong bụi cỏ lau, không mấy ai để ý nên có thể từ đây xuôi theo dòng nước xiết đến Tịnh Hầu Quốc khoảng một canh giờ, chậm hơn đường bộ nhưng khá an toàn.

oOo



Tên lính gác khó chịu nhìn tiểu tử mặt mũi lấm lem, quần áo tả tơi trước mặt, nghi ngờ hỏi: “Ngươi là thương buôn sao?”

“Gần như vậy.” Tiểu tử kia quẹt quẹt cái mũi nhỏ đáp. “Ta có thể vào thành phải không?”

Tên lính xòe bàn tay xám nắng của mình, nói lớn: “Giấy thông hành.”

“Ta đã bảo là rớt dọc đường mà.” Tiểu tử sầu thảm vò đầu đáp, rút trong tay áo bọc tiền nhỏ đặt vào tay người trước mặt nói nhỏ. “Đại huynh là người tốt coi như giúp đỡ ta đi, lần này không mang hàng về mạng nhỏ không giữ được đâu.”

Tên lính nhận tiền nhưng vẻ mặt vẫn nghiêm trọng, hỏi: “Từ đâu đến?”

“Tiểu đệ là dân buôn ở Văn Linh Quốc, biết đang chỗ đó cần dược nêntranh thủ mua để bán lấy vốn mà.”

“Kiếm được bao nhiêu mà đưa ta ít vậy?”

“À, đây chỉ là chút quà cho đại huynh uống nước.” Tiểu tử nhanh nhảu lấy nén vàng trong tay áo len lén cất vào tay lính gác cười đáp, “Còn chỗ này mới là quà ta biếu huynh.”

Tên lính cất vàng và bạc vào túi, hô to: “Mở cửa cho hắn qua.”

“Đa tạ, đa tạ.” Tiểu tử khum người không ngừng cám ơn, chống cây gậy đẽo sơ sài từng bước tiến vào thành.

Khung cảnh ở đây náo nhiệt, người dân ôn hòa, buôn bán tấp nập khác với các gian thương ở Văn Linh Quốc, mua một thét giá mười giống như thời hiện đại – luôn phải trả giá. Thảo nào, Tịnh Hầu Quốc gần năm trăm năm vẫn sừng sững vững bền, đây đúng là thế giới đại đồng mà Khổng Tử nhắc đến trong Kinh Lễ.

Phủ Tịnh Bảo Vương cách cổng thành chừng năm mươi mét, đi bộ không cực mấy, chỉ là đến nơi lại gặp phải tên hầu hách dịch giọng điệu ỷ thế chủ: “Ăn mày như ngươi đến đây làm gì? Hôm nay, chúng ta không phát chẩn gạo.”

Tiểu tử phát cáu lớn tiếng cãi: “Phát chẩn? Ngươi… ngươi coi ta là ai mà cần của bố thí?!”

“Ăn mày.” Người gác cửa săm soi dáng vẻ yếu ớt và bộ quần áo cũ kỹ của gã lạ mặt.

“Ngươi…ngươi…” Tiểu tử kia tức đến điên người vẫn phải cố nhịn xuống, đưa lệnh bài của vị cô nương kia ra oai, “Mở mắt ra mà nhìn ta là ai?!”

“Ngươi có quan hệ thế nào với Tịnh Bảo Vương hả?”

“Cứ cho ta gặp mặt là được.”

“Đứng đợi ở đây.”

Tên gác cửa nhăn mặt lầm lì bảo vào trong còn tiểu tử kia ở ngoài hết qua trái lại qua phải, ngồi đợi từ tối đến trưa vẫn chưa thấy bóng dáng của ai thông báo, chẳng lẽ chúng viện cớ thu hồi lệnh bài?

“Chết tiệt, mình thật ngốc!”

Người kia hoảng hốt không biết làm thế nào, mắt láo liêng ngó xung quanh định bụng nhảy qua tường đột nhập vào trong. Tay vừa vịn được bờ tường bên kia thì một tiếng gọi vang lên: “Tiểu tử, ngươi định làm gì?!”

“Tập… tập thể dục.” Người kia buông tay, đáp đất bằng cái mông nhỏ, lắp bắp đáp.
“Ở quê ta đây là cách giữ thể lực rất tốt.”

Gác cửa tiến đến gần trả lại lệnh bài, nói: “Vương gia truyền ngươi vào.”

“Được, ta vào liền.” Tiểu tử cười hì hì chạy thật nhanh vào phủ.

oOo



Các dinh thự thời cổ đại thường hay xây một hồ nhỏ nuôi cá nhỏ, Mộc phủ cũng vậy, ở Tịnh Bảo Vương không khác lắm, chỉ là nó lớn hơn, nhiều cá hơn và không u buồn. Nói thật, hồ cá ở đây không lộng lẫy và sặc sỡ bảy sắc cầu vồng bằng Mộc phủ, nàng thích chẳng qua do nó không gợi lại quá nhiều ký ức về Oanh Nhi mà thôi.

“Sau khi ta chết, đệ hãy thả hết cá ra biển để chúng có thể tự do bơi lội… được không?”

Trước lúc qua đời, Oanh Nhi nằm tựa lên vai nàng, nhắn nhủ. Sắc mặt nàng ấy rất nhợt nhạt, đôi môi đỏ như anh đào đang chuyển màu trắng, bàn tay lạnh dần, nước mắt cũng không rơi nữa. Còn bản thân mình lại khóc đến khô cạn cả người, nên ngay cả khi lấp kín mộ của quận chúa, nàng không thể rơi thêm giọt nước mắt nào nữa, chỉ ôm chặt bài vị vào lòng đứng rất lâu dưới trời mưa. Bởi vậy, mọi người thường gọi nàng là tam lang si tình, dù nương tử chết ba năm vẫn không chịu cưới người khác.

Nhưng họ đâu biết cảm giác đau đớn bị người thân phản bội, người yêu phụ tình, từng vết từng vết hằn sâu trong tim so với vết thương trên sa trường cũng không thể đếm hết. Chết? Nào có đáng sợ bằng kẻ sống mà như đã chết.

“Tại sao người ta yêu không phải là đệ…?” – Câu nói luôn văng vẳng bên tai của nàng. – “Ít ra, ta có thể hạnh phúc một chút…”

“Quận chúa tỷ tỷ…”

“Chúng ta thành hôn đã gần một tháng mà đệ cứ gọi là quận chúa tỷ tỷ sẽ khiến người ngoài đàm tiếu lung tung. Gọi là Oanh Nhi…khụ… khụ… Uy ca thường gọi ta như thế.”

“Oanh Nhi, tỷ có muốn gặp đại ca không?”

“Ta không phải nương tử của hắn thì gặp làm gì.”


Cố chấp, chính là đến chết vẫn cố chấp.

Trong tình yêu, nhiều kẻ quá cố chấp đến chết vẫn muốn làm người phụ tình dằn vặt.

Thở dài một lúc, Khúc Thi lấy ống sáo nhỏ giống bình nước nhưng đục nhiều lỗ bên trên, khi thổi tiếng bi ai sầu thảm, lá cây xanh đến mấy cũng úa vàng rụng xuống, cá tung tăng dưới hồ cũng phải lặn thật sâu.

Khúc đồng dao này là Oanh Nhi lúc sinh tiền đã cùng đại ca Mộc Uy sáng tác vào đêm thất tịch, thể hiện nỗi cô quạnh của Ngưu Lang Chức Nữ khi ly biệt và hạnh phúc lúc gặp mặt. Khúc nhạc có hai phần một phần thổi bằng ống sáo gỗ để âm thanh thảm thiết da diết, một phần thổi bằng sáo ngọc – âm thanh trong trẻo thể hiện niềm vui đoàn viên. Thế nhưng, tâm trạng xuống dốc cực độ chỉ có thể thổi phần đầu của bài đồng dao còn phần cuối phải kiếm người khác thôi.

“Tên xui xẻo!” Tiếng của cô nương năm xưa vang lên đánh tan không khí nặng nề.

Khúc Thi xoay người cười đáp lễ. “Nhị tiểu thơ lâu rồi không gặp.”

Nàng nhìn cô nương năm xưa mặc y phục thuê phượng hoàng bằng chỉ vàng, đoán nàng ta thấp lắm cũng là người thuộc họ hàng xa của hoàng gia. Xem ra, nghi vấn lúc đầu không hề sai.

“Sao ngươi ăn mặc như cái bang thế hả?” Người kia bịt mũi xua tay nói. “Thật mất mặt của Mộc gia quá.”

Khúc Thi cười khổ, đáp: “Là do lúc chèo thuyền không cẩn thận nên quần áo không chỉnh tề lắm.”

“Vậy… thay y phục mới nói chuyện.” Cô nương Liên Đào vẫn kỹ tính như xưa.

“Ta có việc gấp phải làm nhanh không thể ở lâu. Xin tiểu thơ đừng trách tội.”

“Chuyện gấp gì?” Vị công tử đạo mạo mặc áo bào xanh nhạt ngồi bên cạnh thấp giọng hỏi. “Có phải là muốn mua dược liệu?”

Khúc Thi gật đầu đáp: “Chính là vậy. Tại hạ muốn mua một lượng lớn nhưng không thể công khai vận chuyển bằng đường bộ, chỉ có thể men theo dòng suối nhỏ chảy xiết thôi.”

“…Không biết ngươi muốn mua dược gì?”

“À, là dược trị trùng độc. Không biết công tử có thể kiếm giúp không?”

“Trùng độc?” Công tử kia hơi nhíu mày suy nghĩ rồi ra lệnh cho gã hầu đứng trước cửa mang vào một cái rương nhỏ chiều rộng bằng hai bàn đặt trước mặt Khúc Thi, cười bảo: “Đây là lượng bột chuyên trị trùng độc, ngươi chỉ cần bỏ vào nước, uống vào sẽ không sao. Bấy nhiêu đây có thể dùng đến một năm đó. Nếu nhiều người trúng độc thì bỏ hết một lọ dược là được.”

“Đa tạ công tử cứu giúp, sau này tại hạ nhất định báo đáp.” Khúc Thi ôm quyền lạy tạ.

“Ta nghĩ người phải báo đáp là tứ…” Lời chưa dứt thì cô nương ngồi bên dưới liền ho mấy tiếng ngắt lời, “…tứ biểu muội của huynh ấy.”

“À, đúng rồi, biểu muội của ta.”

“Sau này, tại hạ nhất định đến để tạ ơn.” Khúc Thi như người chết tìm được phao cứu sinh mừng rỡ ôm lấy rương thuốc rời khỏi phủ. Lúc đó, trời cũng chập tối, hai người kia định giữ tiểu tử kia lại một đêm nhưng chưa kịp mở lời hắn đã chạy mất làm vị cô nương kia có chút tiếc nuối.

Thấy vậy, vị công tử kia mới hỏi: “Tại sao công chúa không cho hắn biết thân phận của mình?”

Liên Đào nghịch tóc, đáp: “Ta không thích vậy thôi.”

“Người quá ngang bướng nên hoàng thượng mới mong kiếm một phò mã thật bản lĩnh để trị người đó.”

“Thiên hạ này không có kẻ đó đâu.” Liên Đào lè lưỡi chạy đến nghịch hồ cá trước mặt.

oOo

Đêm nay là mùng mười – ánh trăng sáng thường ẩn trong những đám mây lớn – màn đen bao trùm hết thế gian. Việc chèo thuyền ban đêm thế này rất mạo hiểm nhưng nếu hiên ngang đi ra khỏi thành sẽ bị đám thám tử kia chặn đường, cổ nhân thường nói “tìm đường sống trong chỗ chết” là như vậy đây.

May mắn là chuyến đi về không gặp trở ngài gì, thuốc cũng kịp nấu cho binh lính còn bọn thám tử chắc hẳn vẫn còn ngồi chờ ngoài thành của Tịnh Hầu Quốc. Ha ha ha.